Tin tức bất động sản

Website tin tức bất động sản hàng đầu. Cập nhật tin tức liên tục trong nước và thế giới

Thông tin các dự án hot nhất trong năm

Luôn đi đầu về lượng tìm kiếm các dự án để ở hoặc đầu tư tốt nhất thị trường

Bản tin tài chính - kinh doanh trong nước và quốc tế đầy đủ nhất

Những thông tin tài chính - quốc tế không ngừng biến động được cập nhật liên tục hàng ngày

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

Các hệ thống cấp chứng chỉ xanh khu vực và thế giới

Cùng chung cư 99 trần bình xem xét các hệ thống này:
Theo phân tích của chuyên gia quốc tế, trên thế giới hiện có rất nhiều các quốc gia tiên tiến đi trước đã phát triển hệ thống công trình xanh. Trong đó, nổi bật nhất được sử dụng ở cấp độ phạm vi quốc tế và có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam bao gồm hệ thống Đánh giá Năng lượng của Viện Nghiên cứu Công trình Vương quốc Anh (BREEAM); Hệ thống đánh giá Công trình đứng đầu về thiết kế Năng lượng và Môi trường của Mỹ (LEED); Công trình xếp hạng Ngôi sao Xanh của Autralia (Green Star); Công trình xếp hạng Nhãn Xanh của Singapore (Green Mark); Nhãn CTX – 3 sao của Trung Quốc (Three Star); Tiêu chuẩn Xanh cho thiết kế Năng lượng và môi trường của Hàn Quốc (G-SEED). Ở Việt Nam, thời gian qua cũng đã xuất hiện hệ thống chứng chỉ LOTUS của tổ chức Hội đồng Công trình xanh Việt Nam (VGBC) thực hiện. Các khảo sát và nghiên cứu trên 7 hệ thống chứng chỉ trên đã chỉ ra rằng, mỗi hệ thống đều có những ưu việt riêng nhất định và trong từng trường hợp đây có thể là những bài học kinh nghiệm tốt ứng dụng và kế thừa cho việc xây dựng bộ tiêu chuẩn cấp chứng chỉ công trình xanh Việt Nam sắp được ban hành trong thời gian tới. Qua nghiên cứu và đánh giá cụ thể, hiện tại 3/7 hệ thống chứng chỉ công trình xanh gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore việc đánh giá và cấp chứng chỉ công trình xanh có sự tham gia của cơ quan nhà nước, số còn lại bao gồm cả trường hợp chứng chỉ Lotus tại Việt Nam đều do các tổ chức phi chính phủ thực hiện. Về cơ bản, 7 hệ thống chứng nhận công trình xanh có nhiều sự tương đồng ở các nhóm tiêu chí đánh giá chính như: phương thức quản lý; chất lượng môi trường trong nhà; sử dụng năng luợng; hạ tầng, phương tiện giao thông trong địa bàn; sử dụng nước; sử dụng VLXD; sử dụng đất và hệ sinh thái; mức độ ô nhiễm môi trường… Tuy nhiên trọng số của các nhóm tiêu chí giữa các hệ thống chứng nhận công trình xanh ở các quốc gia khác nhau lại có sự chênh lệch và khác biệt tương đối rõ rệt. Cụ thể, trọng số nhóm tiêu chí quản lý công trình (gồm các tiêu chí quản lý môi trường, nghiệm thu công trình, chi phí vòng đời dự

án…) trong hệ thống BREEAM của Anh là 15% thì hệ thống LEED của Mỹ chỉ có 6%, thậm chí trong hệ thống Green Mark của Singapore là 0%. Đặc biệt, ở nhóm tiêu chí về năng lượng (gồm các tiêu chí về hiệu quả năng luợng, sản xuất năng luợng tái tạo, công nghệ và kế hoạch chiếu sáng, hệ thống vận chuyển trong công trình…), trọng số trong hệ thống Green Mark lên đến 64%, LOTUS 28% và LEED 25%, trong khi ở hệ thống Three Star (Trung Quốc) chỉ có 16%... Riêng hệ thống LOTUS có 2 tiêu chí thiết kế riêng cho Việt Nam là tiêu chí thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, trọng số là 5%, trong khi ở các hệ thống chứng nhận CTX của Hàn Quốc, Úc, Singapore và Trung Quốc trọng số của nhóm tiêu chí này là 0%, Anh 1% và Mỹ 2%. Về quy trình thẩm định hồ sơ và cấp chứng nhận, hầu hết quá trình thẩm định đều có sự tham gia của đơn vị tư vấn thẩm định chuyên môn thứ 3. Một số quy trình thẩm định cũng cho phép các nhóm dự án được phúc khảo thuyết trình lại trong trường hợp chưa đạt ở lần xin phép đầu tiên, thiết lập quy trình cấp chứng nhận 2 giai đoạn (đánh giá tạm thời và chứng nhận chính thức) giúp đảm bảo thành công, quy trình cấp chứng nhận cho phép sự phản hồi của người thực hiện như thực hiện tiếp hậu chứng nhận của G- SEED Hàn Quốc, hay chứng nhận dựa trên hiệu quả sử dụng năng lượng theo các giai đoạn cụ thể của LEED Hoa Kỳ. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra những khiếm khuyết còn tồn tại trong các bộ tiêu chuẩn công trình xanh trên thế giới như Tính thiếu nhất quán trong quy trình thẩm định của LEED Hoa Kỳ, tỷ lệ thấp (10%) hoàn thành chứng nhận công trình xanh đưa vào vận hành của Three Star Trung Quốc, một số các hệ thống đánh giá thuộc khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ còn thiếu các tiêu chí đánh giá công trình trong điều kiện môi trường nhiệt đới nóng ẩm.

Chung cư 99 Trần Bình - Biệt thự xanh Singapore

Chung cư 99 Trần Bình sẽ cùng bạn đọc tìm hiểu Một ví dụ tiêu biểu của sử dụng hiệu quả năng lượng bền vững chính là những ý tưởng thiết kế kiến trúc tối giản. Chỉ với những phương án ý tưởng để thực hiện trong cả cải tạo và xây mới,  kiến trúc sư đã tạo nên một kết cấu nhà ở miền nhiệt đới sống động. Với sự kết hợp chặt chẽ của khối kiến trúc cũ và mới, công trình dường như ẩn chứa bên trong đầy đủ các giá trị lịch sử và hiện đại, đặc biệt là các giá trị kinh tế và không gian sống bền vững
Có vị trí nằm trong khu nhà ở thấp tầng Jalan Binchang giống như rất nhiều khu ở tương tự khác tại Singapore, ngôi nhà cũ có kết cấu gạch xây từ những năm 1970, kiến trúc sư đã tập trung thiết kế ý tưởng cải tạo toàn diện với mục đích mở rộng tối đa diện tích sử dụng bên trong, giữ lại kết cấu chính  của không gian nhà bán song lập nhưng vẫn duy trì sự hài hòa với không gian cảnh quan hiện hữu, với giá trị lịch sử xây dựng nhà ở bản địa và môi trường tự nhiên. Kiến trúc sư đã coi kết cấu và không gian sống hiện hữu như một cơ thể sống cần có sự cách tân và đổi mới để phù hợp với bối cảnh hiện đại. Thay vì phá bỏ hoàn toàn ngôi nhà cũ, các cấu trúc cũ tại tầng trệt được giữ lại, kết hợp với một số cấu trúc mới tầng 2 và tầng mái giúp tạo nên dáng vẻ mới. Các giải pháp tổ chức công năng được bảo tồn nguyên vẹn và được coi như điểm then chốt cho cải tạo. Bằng cách mở rộng tối đa khẩu độ không gian sống, kiến trúc sư đã thể hiện rõ mối liên hệ giữa không gian với thời gian và điều kiện sống. Đây cũng là cách để giảm tối đa lượng phế thải xây dựng ra môi trường, tiết kiệm ngân sách đầu tư và tối thiểu hóa sự tác động của cấu trúc mới tới cảnh quan xung quanh. Khoảng cách giữa khối kiến trúc cũ với 2 tầng nhà cấu trúc mới được bổ sung, kiến trúc sư tạo ra một khoảng mở và cấu trúc bao che mở rộng giúp giữ ánh sáng và gió xuyên phòng cho các không gian sống bên trong ngôi nhà. Điều này cũng là giải pháp kết cấu hữu hiệu để khối kiến trúc mới có thể chịu tải trọng độc lập với kết cấu gạch xây cũ trước đây.
Cấu trúc công năng của ngôi nhà có không gian phía trước là không gian sinh hoạt chung, các cánh nhà sử dụng làm khu dịch vụ như bếp ăn, phòng giặt và vệ sinh. Các không gian tầng 2 được sử dụng chủ yếu cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân như phòng ngủ, phòng làm việc. Cũng trong một thiết kế tổng thể chung nhằm kết nối ăn nhập giữa các kết cấu cũ và mới, kiến trúc sư sử dụng không gian tầng áp mái tạo nên tính nhịp điệu cho mặt đứng chính của ngôi nhà. Kết cấu này có hình thức uốn gấp khúc và phủ kín xung quanh đỉnh và cạnh bên của công trình. Kết cấu mái cũng là mô phỏng lại hình thức mái dốc của ngôi nhà truyền thống xứ nhiệt đới. Sự bao bọc của kết cấu mái cũng tạo nên một cấu trúc ngăn che độc lập, cách ly không gian sống bên trong với ánh nắng xứ nhiệt đới. Sử dụng các chủng loại vật liệu có sẵn bản địa để xây dựng một bức tường biết thở nằm bên ngoài phía Tây - Bắc. Cấu trúc tường bao ngoài giúp giảm thiểu tiếng ồn ảnh hưởng từ các tuyến phố chính đông đúc và náo nhiệt, cũng như cho phép duy trì luồng thông gió tự nhiên và giảm thiểu tối đa lượng nhiệt thẩm thấu vào bên trong để không gian nội thất hầu như không phải sử dụng quá nhiều điều hòa không khí nhân tạo. Thiết kế bức tường biết thở tại vị trí tường rào bao quanh nhà cũng tạo ra những trang trí rất đẹp cho không gian tiểu cảnh chung thông qua thủ pháp kết hợp với xây xanh, ánh sáng, môi trường tự nhiên như những khoảng bóng đổ ánh nắng, làm tăng chất cảm, sự lãng mạn cho từng không gian sống.

Tác động điều tiết cung cầu bất động sản đô thị phần 2

Quan hệ cung - cầu bất động sản 
Cung - cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trên thị trường. Theo nguyên lý của Alfred Marshall nhà kinh tế học người Anh (1842 - 1924): Khi một mặt hàng ở trạng thái dư cầu thì giá của người mua sẽ cao hơn giá của người bán; người sản xuất sẽ tăng lượng cung. Ngược lại, khi mặt hàng ở trạng thái dư cung, thì giá của người mua sẽ thấp hơn giá của người bán; người sản xuất sẽ giảm lượng cung. Quan hệ giữa lượng cung và giá cả được thể hiện thông qua đường thẳng cung ứng. Là quan hệ tỷ lệ thuận, nên đường này dốc lên phía phải trong hệ trục tọa độ mà trục tung là trục giá và trục hoành là lượng cung. Ngược lại, quan hệ giữa giá cả và lượng cầu là quan hệ tỷ lệ nghịch, nên đường cầu là đường dốc xuống phía phải trong hệ trục tọa độ hai chiều với trục tung là trục giá và trục hoành là lượng cầu.
Trong toán học hàm cung được trình bày theo công thức:
Y2 = X2(Px¬, P¬y, M) 
Hàm cầu được trình bày theo công thức: 
Y1 = 1/(X1(Px¬,P¬y,M))      
Trong đó, X1: Lượng cầu X2: Lượng cung
Px: Giá của mặt hàng
P¬y: Giá của mặt hàng khác
M: Thu nhập người mua
Giá cả các mặt hàng khác và thu nhập người mua là các biến ngoại sinh Quy luật giá trị đã gây ra những hiện tượng đó, và điều tiết việc sản xuất trong xã hội. Muốn hiểu rõ vấn đề này, cần xem xét những trường hợp thường xảy ra trên thị trường hàng hoá: - Giá cả đồng nhất với giá trị; - Giá cả cao hơn giá trị; - Giá cả thấp hơn giá trị.
Trường hợp thứ nhất nói lên cung và cầu trên thị trường nhất trí với nhau, sản xuất vừa khớp với nhu cầu của xã hội. Do dựa trên nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hoá tiến hành theo quy luật giá trị, nên trường hợp này hết sức hiếm và ngẫu nhiên. Trường hợp thứ hai nói lên cung ít hơn cầu, sản xuất không thoả mãn được nhu cầu của xã hội nên hàng hoá bán chạy và lãi cao. Do đó, những người sản xuất loại hàng hoá đó sẽ mở rộng sản xuất; nhiều người trước kia sản xuất loại hàng hoá khác cũng chuyển sang sản xuất loại này. Tình hình đó làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển vào ngành này nhiều hơn các ngành khác. Trường hợp thứ ba chỉ rõ cung cao hơn cầu, sản phẩm làm ra quá nhiều so với nhu cầu xã hội, hàng hoá bán không chạy và bị lỗ vốn. Tình hình đó buộc một số người sản xuất ở ngành này phải rút bớt vốn chuyển sang ngành khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động giảm đi ở ngành này. Như vậy là theo "mệnh lệnh" của giá cả thị trường lúc lên, lúc xuống xoay quanh giá trị mà có sự di chuyển tư liệu sản xuất và sức lao động từ ngành này sang ngành khác, do đó quy mô sản xuất của ngành đó mở rộng. Việc điều tiết tư liệu sản xuất và sức lao động trong từng thời điểm có xu hướng phù hợp với yêu cầu của xã hội, tạo nên những tỷ lệ cân đối.

>>> Dự kiến lượng cung tăng mạnh khi mở bán 1 loạt chung cư lớn như chung cư 99 trần bình, FLC complex,...

Trong thị trường bất động sản, cung cầu được điều tiết bởi quy hoạch xây dựng đô thị. Giá trị bất động sản sẽ cân bằng giữa cung và cầu. Cung cố định trên đường OM, đường cung sẽ là đường chéo EB (tỷ lệ nghịch), giá sẽ là OA. Như vậy, khi cung thay đổi, giá sẽ thay đổi. Nếu như tăng cung đoạn MX (do quy hoạch). Cân bằng mới sẽ được thiết lập ở OC thấp hơn. Chính vì vậy, khi Nhà nước điều chỉnh quy hoạch bằng cách tăng lượng cung ra thị trường, giá bất động sản cũng bị tác động theo chiều hướng giảm. Sẽ có lập luận rằng giá được xác định bởi lượng cầu trên đường cầu, tuy nhiên, các ý kiến khác lại lập luận rằng giá được xác định bởi lượng cung trên đường cung. Xét biểu đồ trên ta thấy giá được xác định bởi cả cung và cầu. Trên thực tế việc thay đổi cầu sẽ tác động tới giá bất động sản nhanh hơn so với thay đổi cung do các thủ tục hành chính, pháp lý kéo dài đối với một dự án xây dựng, nên khi quyết định tăng cung được ban ra, phải mất một năm đến nhiều năm mới có sản phẩm trên thị trường, Tất nhiên, nếu thị trường bất động sản là một thị trường hiệu quả, khi quyết định tăng cung được ban ra, sẽ có hiệu ứng ngay tới thị trường.
Bài học kinh nghiệm từ nhiều nước đã cho thấy để điều tiết tốt nguồn cung - cầu bất động sản, các nước chủ yếu sử dụng công cụ quy hoạch xây dựng đô thị. Hàn Quốc là một ví dụ. Từ một nước bị tàn phá trong chiến tranh, chỉ sau vài thập kỷ, Hàn Quốc đã trở thành một trong số các nước có tốc độ đô thị hóa và phát triển kinh tế nhanh nhất châu Á. Quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế diễn ra đồng thời. Vùng thủ đô Seoul là minh chứng về khuynh hướng tập trung, tích tụ dân cư. Vào năm 1980, dân số tại đó lên đến 15 triệu người. Nhu cầu về đất đai, về không gian xây dựng đô thị tăng mạnh, thị trường đất đai bùng nổ. Cung không đáp ứng đủ cầu, đã có các hiện tượng đầu cơ đất. Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ Hàn Quốc thông qua nhiều biện pháp.
 Một trong những biện pháp đó là sử dụng công cụ quy hoạch xây dựng đô thị để tăng và điều tiết nguồn cung - cầu đất đai nhà ở. Vào năm 1989, Hàn Quốc cho phép quy hoạch phát triển 5 thành phố mới trong vùng thủ đô Seoul. 5 thành phố này là: Bundang, Ilsan, Pyungchou, Joongdong và Sanbow. Quy hoạch này cung ra thị trường 293.000 căn hộ trên tổng thể 2 triệu đơn vị ở cần phải xây dựng từ năm 1988 - 1992. Bất chấp những lời chỉ trích, quy hoạch 5 thành phố mới tại thủ đô Seoul đã tác động tích cực tới thị trường bất động sản. Nó làm giảm sự thiếu hụt nhà ở tại thủ đô Seoul và giúp ổn định giá mua và thuê nhà trong giai đoạn dài. Nó góp phần làm tăng tỷ lệ sở hữu nhà và cải thiện đáng kể điều kiện nhà ở, giúp cho công tác quản lý và phát triển đô thị được ổn định, bền vững. KếT luận Như vậy. quan hệ cung - cầu dưới tác động của quy hoạch xây dựng đô thị cũng có thể được hiển thị bằng công cụ toán học.
Trên đồ thị, khi đưa thêm vào đường tăng cung khi quy hoạch xây dựng ta nhận thấy thiết lập cân bằng cung - cầu sẽ ở vị trí thấp hơn (về giá). Như vậy, về mặt toán học, có thể điều tiết nguồn cung - cầu khi thị trường có biến động giá (do đầu cơ, hoặc do nhu cầu phát triển) thông qua công cụ chính sách, pháp luật. Trên thực tế, để điều tiết cán cân cung - cầu, tích cực triển khai các giải pháp quản lý bất động sản đô thị, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, ngày 22/03/2013, Bộ Xây dựng đã có văn bản số 480/BXD-QLN yêu cầu các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục rà soát các dự án khu đô thị mới, khu nhà ở để phân loại các dự án tạm dừng, các dự án cần điều chỉnh, chuyển đổi sang nhà ở xã hội. Như vậy, có thể thấy việc điều tiết cung - cầu bất động sản đô thị quan trọng như thế nào trong công tác quản lý đô thị. Nắm vững hiểu rõ quan hệ cung - cầu, trong công tác quản lý và phát triển đô thị Nhà nước có thể hoạch định chính sách từ sớm thông qua công tác quy hoạch xây dựng đô thị, nhằm đưa một trong những ngành kinh tế quan trọng của đất nước là bất động sản đô thị phát triển ổn định, qua đó ổn định kinh tế vỹ mô phát triển đô thị bền vững.

Phần I


Tác động điều tiết cung cầu bất động sản đô thị phần 1

Khoa học kỹ thuật phát triển, tính chuyên môn hóa trong lao động phát triển cao hơn, các khu đô thị ra đời. Dân số tăng tạo áp lực lên nhu cầu đất đai, dẫn tới nhiều vùng rộng lớn đất từ nông nghiệp chuyển thành mục đích sử dụng đô thị. Tại hầu hết các nước châu Á, tổng số đất đai phát triển đô thị luôn luôn thiếu hụt so với nhu cầu. Để phát triển đô thị bền vững, cần điều tiết tốt nguồn cung - cầu bất động sản.
>>> Chung cư 99 trần bình mở bán sẽ làm tăng nguồn cung thị trường BĐS phân khúc cao cấp
Quy hoạch xây dựng đô thị là môn khoa học tổng hợp tác động tới mọi mặt đời sống kinh tế - đô thị, trong đó có phát triển nhà ở và quản lý bất động sản. Bất động sản đô thị dạng sơ cấp phụ thuộc rất lớn vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch các khu đô thị. Nhà nước thông qua quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tác động tới thị trường sơ cấp quyền sử dụng đất và thị trường nhà ở. Quy hoạch nhà ở, một trong những công cụ chủ yếu của quản lý bất động sản đô thị được nói lần đầu tiên trong Luật nhà ở nhưng còn sơ sài năm 2005. Từ năm 1960 - 1980 Nhà nước giữ độc quyền bao cấp về nhà ở, cuối những năm 1980, Nhà nước không cung cấp nhà ở nữa và có các chính sách khuyến khích nhân dân tự xây dựng. Năm 1992, Chính phủ ban hành Quyết định 118/TTg bãi bỏ chế độ phân phối nhà ở, đưa tiền nhà ở vào tiền lương. Cùng với chính sách xóa bỏ bao cấp về nhà ở, Nhà nước triển khai bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước góp phần tạo nguồn vốn đầu tư phát triển nhà ở và thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng khác nhau nhất là đối với các đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và các đối tượng xã hội như: lực lượng vũ trang, sinh viên, người có công với cách mạng… Khi chưa có quy hoạch nhà ở, Nhà nước ban hành các Quyết định định hướng phát triển nhà ở. Tới năm 2006, nhằm mục tiêu quản lý phát triển đô thị bền vững, trong đó có bất động sản. Nhà nước ban hành Luật kinh doanh bất động sản, đối tượng điều tiết là bất động sản đô thị, trong đó chủ yếu là nhà ở, đất ở. Trên thực tế, phát triển bất động sản đô thị vẫn còn bị động, chưa phát huy được tiềm năng vốn có. Sự biến động thất thường của giá trị bất động sản trong những năm qua có thời điểm tác động xấu tới nền kinh tế và hoạt động sản xuất, đặc biệt chưa đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho người lao động, gây khó khăn cho công tác quản lý đô thị. Việc quản lý, điều tiết bất động sản còn nhiều thiếu sót, liên quan đến công tác quy hoạch, dự báo của nền kinh tế, trong đó có quản lý bất động sản đô thị. Việc quy hoạch ồ ạt các khu đô thị đã dẫn tới nguồn tăng cung không hợp lý gây dư thừa lớn, hàng hóa bất động sản không bán được, giá trị suy giảm gây khó khăn cho nền kinh tế. Tại Hà Nội, theo tính toán cho mục tiêu phát triển nhà ở đến năm 2020, cần phát triển thêm 60 triệu m2 nhà ở, bao gồm cả nhà ở do dân tự xây (chiếm khoảng 70%). Tuy nhiên, diện tích nhà ở trong các dự án đã giao chủ đầu tư là hơn 82 triệu m2 (khoảng 520.695 căn, trong khi khu vực đô thị của Hà Nội hiện nay khoảng 733.000 hộ). Tại thành phố Hồ Chí Minh số liệu này là 65,7 triệu m2 so với diện tích nhà ở đã giao chủ đầu tư là 80 triệu m2 (khoảng 572.422 căn, trong khi số hộ gia đình khu vực đô thị của thành phố hiện nay là 1,5 triệu hộ). Hiện nay, trong cả nước đang triển khai trên 2.500 dự án nhà ở và khu đô thị mới, hàng năm xây dựng được từ 20 - 25 triệu m2 nhà ở. Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2003 đến 9/2008 đã có 445 dự án nhà ở được giao đất với diện tích 3.985 ha. Thành phố Hà Nội từ năm 1999 đến nay đã và đang triển khai 164 dự án nhà ở và khu đô thị mới với tổng diện tích đất là 1.572 ha. Tình hình đóng băng thị trường bất động sản bắt đầu từ năm 2009 đến nay (khủng hoảng thừa) do nhiều nguyên nhân, nhưng một phần rất lớn trong một thời gian dài phát triển dự án các khu đô thị mới, chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp và các loại đất chuyên dùng khác sang đất ở tràn lan, quy hoạch không sát thực tế, chỉ quan tâm tới lợi ích kinh tế (tăng trưởng nóng) mà không tính tới quan hệ cung - cầu trong lĩnh vực bất động sản đô thị và các vấn đề về hạ tầng kỹ thuật, xã hội. Nắm vững và hiểu rõ lý thuyết quan hệ cung - cầu bất động sản là vấn đề quan trọng, đóng góp cơ sở lý luận cho các nhà hoạch định chinh sách trong lĩnh vực quản lý và phát triển đô thị.

>>> Tổng hợp tin tức dự án quan trọng

Tổng hợp một số tin tức dự án quan trọng

“Kiểm soáT Tiến độ, ChấT lượng nhà QuốC hội Từng ngày, Từng giờ” Đây là một trong những nội dung quan trọng được Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng chỉ đạo tại cuộc họp giao ban Chương trình công tác quý II/2015 của Bộ Xây dựng diễn ra chiều ngày 4/4/2015. Tại cuộc giao ban, để đảm bảo tiến độ, chất lượng của công trình đặc biệt quan trọng này, Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng yêu cầu các đơn vị có liên quan đến xây dựng công trình Nhà Quốc hội cũng như thẩm định chất lượng, phê duyệt phương án... đều phải tiến hành một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng cũng nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm chương trình hoạt động của Bộ Xây dựng trong quý II/2015 là hoàn thành triệt để các phần việc, nhiệm vụ còn lại của quý I/2015. Liên quan đến sự kiện vỡ đường ống dẫn nước sinh hoạt từ sông Đà về Hà Nội, đoạn qua xã Ngọc Liệp, huyện Quốc Oai ngày 1/4 mới đây, Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng yêu cầu cơ quan chức năng Bộ Xây dựng khẩn trương kiểm tra toàn bộ hệ thống đường ống cấp nước sạch sông Đà, đặc biệt là về thiết kế, nền móng, chất lượng vật liệu xây dựng đường ống, cùng với đó phải tìm ra được nguyên nhân của sự cố và đưa ra các giải pháp khắc phục sớm nhất, đảm bảo quyền lợi của người dân. Trong quý II/2014, Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục hoàn thiện 3 dự án luật: Luật Xây dựng (sửa đổi), Luật Kinh doanh BĐS (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi) để trình Quốc hội, đồng thời theo dõi, đôn đốc các đề án, dự án, văn bản quy phạm pháp luật đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng như hoàn thiện, ban hành các thông tư theo chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 của Bộ Xây dựng.
>> Mở bán chung cư 99 Trần Bình giai đoạn cuối năm 2015
Công bố 3 dự án nhận 55 Tỷ yên Của nhậT bản Ông Mori Mutsuya - trưởng đại diện văn phòng Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam cho biết “Dựa trên đề xuất của Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Nhật Bản, vào tháng 12/2014 và tháng 2/2015 JICA đã ký kết hiệp định vay với tổng kinh phí khoảng 55 tỷ Yên cho 3 dự án là Dự án xây dựng đường vành đai 3 thành phố Hà Nội (đoạn Mai Dịch - Nam Thăng Long); Dự án xây dựng nhà ga hành khách số 2 Sân bay Quốc tế Nội Bài (giai đoạn 3) và Dự án nâng cấp Nhà máy thủy điện Đa Nhim”.  Dự án Cảng Lạch Huyện hiện đang được xây dựng tại thành phố Hải Phòng, có quy mô lớn, với tổng kinh phí 140 tỷ yên. Trong đó, công trình xây dựng cơ sở hạ tầng chung cho cảng đã được bắt đầu và phần cầu đường ôtô, được khởi công vào ngày 15/2 vừa qua, đang được triển khai bằng nguồn vốn ODA Nhật Bản. Nếu thành công, đây sẽ là dự án hợp tác công-tư (PPP) chính thức đầu tiên tại Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông”.

Thêm gói 50.000 Tỷ đồng hỗ Trợ xây dựng, bấT động sản Chiều 25/3, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng Xây dựng Việt Nam (VNCB) phối hợp với Tập đoàn Thiên Thanh đã chính thức công bố gói tín dụng 50.000 tỷ đồng thông qua chuỗi liên kết xây dựng bốn nhà. Mục tiêu xây dựng gói tín dụng này nhằm hỗ trợ cho ngành xây dựng, bất động sản theo Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2015, các nghị quyết 01 và 02/NQ-CP năm 2015 của Chính phủ.Theo Ngân hàng Xây dựng Việt Nam, khi tham gia chuỗi liên kết này, điểm mới trong dòng chảy của gói tín dụng là tối ưu và hiệu quả cho tất cả các chủ thể tham gia thị trường xây dựng, an toàn tín dụng cho các ngân hàng cấp tín dụng, khơi thông hàng hóa vật liệu xây dựng thông qua các hình thức trả chậm và đổi trừ, giảm tiền mặt lưu thông góp phần giảm lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng mới khi còn có các khoản vay cũ,… Đối với nhà sản xuất có thể giải phóng được hàng tồn kho với số lượng lớn, được thanh toán đúng tiến độ. Theo kế hoạch, 10 ngân hàng sẽ tham gia chuỗi liên kết này; trong đó, bốn ngân hàng Thương mại cổ phần Nhà nước gồm BIDV, Vietcombank, Agribank và Vietinbank.Bốn ngân hàng này dành một lượng vốn tối thiểu 3% tổng dư nợ cho vay tại thời điểm cuối năm trước để cho vay các đối tượng theo quy định.Bốn ngân hàng này được gọi là “Ngân hàng người mua” trong chuỗi liên kết, VNCB là Ngân hàng tổ chức. Tập đoàn Thiên Thanh hướng tới là nhà tổ chức cung ứng vật liệu xây dựng, chủ trì xây dựng sàn kinh doanh vật liệu xây dựng đầu tiên trên cả nước, nhằm kích cầu sản xuất ngành xây dựng, là cơ sở để tín dụng và các công cụ tài chính được sử dụng tối ưu. Việc khơi thông để kích cầu cũng như giải phóng hàng tồn kho nhiều loại vật liệu xây dựng vẫn còn là thách thức lớn, vẫn tồn tại sự thiếu sự tin tưởng lẫn nhau giữa các đối tác trong chuỗi liên kết xây dựng giữa ngân hàng với chủ đầu tư-nhà thầu-nhà cung ứng sản xuất vật liệu xây dựng.